Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

Những gia đình khuyết đàn ông ở nơi “bão trắng” tràn về

Tuy chỉ cách thành phố Sơn La (tỉnh Sơn La) chưa đầy chục cây số, nhưng chỉ sau một cơn mưa nhỏ, bản Có - xã Chiềng Xôm như bị chia cắt bởi con đường sình lầy, bùn nhão nhoét đến đầu gối, không một loại xe nào có thể vào được. Chúng tôi lội bộ theo những phụ nữ bản Có đi chợ về vào bản. Các chị nói rằng bản Có cái gì cũng “có”, kể cả những thứ các chị không muốn, đó là ma túy, gốc rễ gây nên những nỗi đau đeo bám cuộc đời nhiều phụ nữ người Thái ở đây.
Những ngôi nhà vắng tiếng đàn ông
Nghèo “có tiếng” ở bản Có là chị Lò Thị Nga. Gần 40 tuổi, chồng chết do AIDS cách đây 10 năm sau một thời gian dài dính vào ma túy. Từ đó, chị một nách hai con, một người mẹ chồng già hay ốm đau, nay cộng thêm người em chồng 30 tuổi bị AIDS giai đoạn cuối nằm liệt ở nhà.
Chị Lò Thị Nga bên ngôi nhà sàn rách nát
Không sõi tiếng Kinh, do từ bé chị Nga đã phải bỏ học giữa chừng bởi nhà nghèo. Trong câu chuyện đẫm nước mắt, chị Nga cho biết từ khi chồng chết, chị vừa phải lao động nuôi hai con, người em chồng, vừa lo trả nợ. Con gái lớn Lù Thị Yến sinh năm 1998 đã phải bỏ học đi làm thuê kiếm tiền giúp mẹ nuôi em và chú. “Ma túy đã phá nát gia đình tôi. Ngày còn sống, anh ấy theo xã hội đen đi làm ăn xa. Chẳng biết anh ấy làm gì nhưng kiếm được đồng nào thì nướng hết vào ma túy. Hết tiền, anh ấy về đòi tôi cho tiền. Tôi không có thì anh ấy túm tóc đánh đấm túi bụi. Muốn cho con đi học cho bằng bè bạn, nhưng không có tiền, không có rẫy để canh tác. Nhiều khi tôi chỉ biết khóc một mình” – chị Nga sụt sùi.
Cách nhà chị Nga một con dốc nhỏ trơn trượt là gia đình chị Tòng Thị Phấn, năm nay 37 tuổi. Chồng chị cũng chết do AIDS cách đây 2 năm. Một mình chị nuôi 3 đứa con và mẹ chồng đã 73 tuổi cùng món nợ “lãi mẹ đẻ lãi con” khoảng 40 triệu đồng từ khi chồng chị nhập viện rồi qua đời. Trước đây, chồng chị Phấn làm thợ xây, theo bạn bè đi hết bản xa đến bản gần. Ban đầu, anh còn đều đặn đưa tiền cho vợ, sau này thấy anh đi miết mà chẳng có tiền, sức khỏe ngày một yếu đi, chị theo dõi thì biết anh đã dính ma túy.
Chị Phấn quanh năm chỉ biết cây ngô
Khác với chồng chị Nga, chồng chị Phấn rất hiền lành, thương vợ con, không to tiếng bao giờ. Biết mình mắc nghiện, anh quyết tâm đi cai. Nhưng rồi “đâu lại vào đó”. Đến khi anh chết, đi làm xét nghiệm thì may mắn là chị và các con không ai bị lây nhiễm HIV. Hiện tại, niềm an ủi lớn lớn của chị Phấn là cả 3 đứa con đều ngoan ngoãn, học giỏi, trong đó đứa con gái lớn đang là sinh viên năm thứ nhất Đại học Tây Bắc.
Chị bảo, từ bé đã mồ côi mẹ, lớn lên với nương ngô giờ cũng chỉ biết ngô, bởi chị không biết buôn bán để xuống thành phố kiếm sống. Mỗi tháng chị kiếm được khoảng 1 triệu đồng, chi phí cho con học hành từ 400 – 500.000 đồng. Chị Phấn chia sẻ, nhiều lúc cũng thấy rất mệt mỏi, tủi cực, nhưng được mẹ chồng và các con động viên, an ủi nên niềm vui đã trở lại. Cứ nghĩ đến ma túy và bóng những người đàn ông “dặt dẹo” trong bản, chị lại rùng mình, ớn lạnh.
“Bão trắng” qua đi, cái nghèo ở lại
Phó Chủ tịch UBND xã Chiềng Xôm Lèo Văn Hưởng cho biết, toàn xã hiện có khoảng 30 cháu mồ côi, nhiều cháu mất cả cha lẫn mẹ và chủ yếu là do “cái chết trắng”. “Mặc dù tệ nạn ma túy tại địa phương có giảm những năm gần đây, nhưng hậu quả của nó thì quá ghê gớm. Nhiều em nhỏ trong xã mồ côi cả bố lẫn mẹ phải ở với ông bà đã già yếu. Ngoài khó khăn về điều kiện sống, các em còn mang một nỗi mặc cảm lớn khi có bố, mẹ chết do ma túy hay HIV/AIDS. Nhiều chị em có chồng mất từ khi còn rất trẻ và cứ thế lăn lộn với cuộc sống nghèo đói, sự kỳ thị từ phía cộng đồng để kiếm tiền nuôi con nên rất cơ cực, trong khi hầu hết lại ít học, thậm chí có chị không biết tiếng Kinh” – ông Hưởng chia sẻ.
Ma túy đã khiến gia đình chị Nga tan vỡ
Ông Quàng Văn Thủy, phụ trách văn hóa xã Chiềng Xôm cho biết thêm, khi những trụ cột gia đình chết do ma túy, gánh nặng kinh tế đè lên đôi vai của người vợ. Theo đó, những gia đình khuyết đàn ông như thế này “nghiễm nhiên” trở thành hộ nghèo với những món nợ do chữa chạy cho chồng khi còn sống. “Ở đây ai cũng biết hoàn cảnh của các chị, song hầu hết người dân trong bản đều nghèo nên chỉ giúp họ được phần nào mà thôi” – ông Thủy nói.  
Nếu “tích lũy” từ nhiều năm qua, đã có hàng chục chị có chồng chết do ma túy tại Chiềng Xôm và vệ lụy của nó kéo theo là vô cùng nặng nề. Theo ông Lèo Văn Hưởng, trước năm 2006, địa phương là một trong những điểm nóng về tệ nạn ma túy với trên 150 người nghiện nằm trong diện quản lý. Qua công tác đấu tranh, vận động, hiện số người nghiện của xã giảm, song vẫn còn trên 20 người mắc nghiện và nhiễm HIV thuộc diện quản lý; còn những đối tượng vãng lai thì rất khó kiểm soát, thậm chí họ biết bản thân bị nhiễm HIV nhưng không chịu “lộ diện”.
Thế nên, “bão trắng” chưa thể chấm dứt tại bản Có và Chiềng Xôm, cũng như danh sách hộ nghèo như chị Nga, chị Phấn sẽ chưa biết bao giờ chấm dứt./.
Ông Trần Xuân Hội – phụ trách Phòng Bảo vệ – Chăm sóc trẻ em (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội) tỉnh Sơn La cho biết, hiện địa phương miền núi này có trên 25.000 trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV, 12.572 trẻ em có nguy cơ cao nhiễm HIV, trong đó bao gồm trẻ em sử dụng ma túy, trẻ em là con của người bán dâm, người sử dụng ma túy…

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

THẮP LÊN NIỀM TIN Ở LÝ SƠN


          Trên trang thơ “Núi Ấn sông Trà”, một bạn trẻ viết: “Về đi anh ta thăm đảo Lý Sơn/Với những di tích quốc gia, với chùa Hang, chùa Giếng/Với lễ hội cầu ngư, lễ khao lề thế lính/Với hương quê của vị tỏi, vị hành”. Quả đúng như thế, những ai đã từng đặt chân tới Lý Sơn không khỏi xuýt xoa, tâm hồn lâng lâng bay bổng với cảnh sắc và con người nơi đây. Để rồi khi xa đảo, lòng vẫn xao xuyến nhớ cảnh, nhớ người, nhớ giọng nói nằng nặng đặc trưng của những con người đang ngày đêm bám đảo, bám biển, là những “cột mốc sống” khẳng định chủ quyền biển đảo bất khả xâm phạm của Tổ quốc.
1. Từ thành phố Quảng Ngãi xuôi hướng Đông khoảng 20 km là tới cảng Sa Kỳ. Từ đây, xuôi tàu cao tốc khoảng 45 phút là du khách có thể đặt chân tới đảo Lý Sơn. Từ tháng 4 năm 2007 về trước, khi tỉnh Quảng Ngãi chưa đưa vào vận hành tàu cao tốc, người dân phải đi lại bằng tàu gỗ. Nếu trời yên biển lặng, phải mất bốn tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, tàu gỗ không thể neo gần bờ mà phải “dừng” cách bờ khoảng một cây số, và người dân được “tăng bo” bằng thuyền thúng từ tàu gỗ lên bờ. Do đó, nguy hiểm luôn rình rập với người dân khi chẳng may gặp gió lớn hay sóng dữ. Thầy giáo Lê Văn Linh, giáo viên trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, huyện Sơn Tịnh, có thời gian dạy học ở Lý Sơn 12 năm nhớ lại, trong một lần về đảo, thuyền của thầy gặp gió to và bị lật úp. Với “kinh nghiệm sóng gió của một nhà giáo”, thầy đã quẳng hết đồ đạc rồi xoải tay vừa bơi, vừa kêu cứu. Khi đoàn người đang ngoi ngóp giữa biển, thì may mắn được một tàu cá đi qua cứu vớt. Một phen thoát chết, nhưng do không có phương tiện nào khác nên mỗi lần ra vào đảo, thầy và người dân vẫn phải “chung thuỷ” với thuyền gỗ và thuyền thúng.




Giờ đây, chiếc thuyền gỗ đã lùi vào quá khứ, thay vào đó là những con tàu cao tốc sạch sẽ, hiện đại, như chàng Phù Đổng dũng mãnh khoát đôi tay rắc chắc rẽ sóng đưa nhân dân ra vào đảo. Tất nhiên, những ngày biển động, thời tiết xấu, lực lượng chức năng sẽ cấm tàu. Thế nên, chúng ta chỉ có thể ra đảo vào những ngày trời yên biển lặng. Du khách có thể leo lên boong tàu thoả sức ngắm nhìn trời - biển. Ngược tàu cao tốc, từng đoàn thuyền đầy ắp cá đang về cảng Sa Kỳ mang theo những người đàn ông với làn ra rắn rỏi, ánh mắt vui tươi, háo hức mong gặp lại vợ con sau cả tháng ròng bám biển. Từng đàn hải âu tung cánh lượn ngang trời… Tất cả thật thanh bình.  
Và rồi, trước mũi tàu, đảo Lý Sơn hiện ra như một viên ngọc bích điểm xuyết giữa màn nước biển xanh đến nao lòng. Những hàng dừa thân cao vút, hiên ngang giữa bão gió nhưng dịu dàng chở che cho con người suốt bao đời nay. Cầu cảng tấp nập tàu thuyền vào ra. Những nhà cửa tường vôi san sát. Những nấm mộ nằm trắng chân núi, “chen chân” ven đường làng hoặc rải rác giữa những cánh đồng tỏi, trong vô số những nấm mồ đó, có những chiếc không có hài cốt – mà người dân gọi là mộ gió. Mộ gió là mộ của những chiến binh Hoàng Sa năm xưa, hay của những ngư dân Lý Sơn đã nằm lại giữa lòng biển cả. Đằng sau những ngôi mộ ở Lý Sơn là những câu chuyện kỳ bí về mảnh đất này của hàng trăm năm trước, khi những người đầu tiên ra đây khai thiên lập địa…; hay những điều ly kỳ trong buổi lễ “sư phan”, gọi hồn những người đàn ông của đảo tử nạn khi mưu sinh trên biển.
Tàu cập đảo. Hàng trăm người tay bắt mặt mừng như thể bao ngày gặp lại. Có lẽ mừng nhất là người nhà của những phụ nữ vừa “vượt cạn” từ đất liền trở về. Cả nhà tíu tít, rộn ràng bên em bé còn đỏ hỏn; người dân đảo cũng hớn hở, vui mừng vì đảo có thêm một thành viên mới. Một cô giáo trẻ với ánh mắt hân hoan, vui sướng vì hôm nay, người yêu của cô từ đất liền ra thăm và hẹn ngày tổ chức đám cưới… Cứ thế, mỗi ngày, từng chuyến tàu cao tốc ra đảo mang theo bao tâm sự, khao khát đôi bờ.  
2. Còn bạn, người dân đảo biết ngay là khách phương xa mà chẳng cần nghe giọng nói. Thế nên, đã là khách, bạn sẽ được chủ tiếp đón nồng hậu, cho đi “xe ôm ké” miễn phí, hay nhận được sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình nếu bạn cần gặp ai hay tìm hiểu một vấn đề gì đó. Dù bạn có đến đảo một mình, cũng cảm thấy như đang ở “làng mình” và chẳng sợ lạc đường hay không có chỗ tá túc. Tôi thuê một chiếc xe máy để “phượt” trên đảo. Chủ nhà dặn: “Chú nhớ đi đúng luật, cài quai mũ kẻo bị công an phạt đấy!”. Cái này ở phố thì đương nhiên rồi, nhưng ở đảo, đây là câu cửa miệng người ra nhắc nhau mỗi khi tham gia giao thông. Vậy nên ở đây không có chuyện phóng nhanh, vượt ẩu, gây tai nạn rồi bỏ chạy, bị phạt do mắc lỗi này nọ. Có thể lý giải là ở đảo, đi đâu mà vội, với lại phương tiện giao thông không dày đặc như Hà Nội, Sài Gòn… song cái chính là ý thức của người dân. Họ phòng và giữ cho nhau, đó mới là điều quan trọng.
Điều thú vị nữa khi tham gia giao thông ở đảo, đó là để khỏi quên chìa khoá xe, tốt nhất không nên… rút chìa khoá khi ta đi đâu đó. Còn con “chiến mã” thì cứ để gọn ở lề đường là được. Những người già ở đảo nói rằng, ở đây chưa từng xảy ra vụ mất trộm vặt nào, huống hồ cái xe máy. Còn nếu như bạn quên, thì người dân sẽ cất hộ cẩn thận cho bạn. Ngẫm lại, căn bệnh cảnh giác của người thành phố có lẽ thừa thãi với người Lý Sơn.
3. Tới Lý Sơn, bạn có thể mải mê khám phá chùa Hang, chùa Đục, hang Câu, miếu bà Chúa Ngọc, đình làng An Hải, dinh Bà Roi, giếng Vua, miệng Núi lửa, Âm Linh Tự và cả những ngôi mộ cổ, mộ gió. Đặc biệt, khi bạn lên đỉnh miệng núi lửa, vốn được hình thành từ hàng triệu năm về trước, cả huyện đảo cùng trời biển sẽ hiện ra dưới chân bạn xanh - đẹp đến mê hồn. Những cánh đồng tỏi xanh rờn vuông vức hiện lên trên nền trắng của cát, con đường độc đạo của đảo như một lằn chỉ uốn lượn bên tấm lụa xanh biếc ngút tầm mắt của biển. Miệng núi lửa nay đã được cải tạo, trở thành hồ chứa nước Thới Lới với diện tích trên 10 héc ta, dung để tưới cho hơn 60 héc ta tỏi và hàng nghìn người dân có nước sinh hoạt. Đây thực sự là điểm tham qua không thể bỏ qua khi tới hòn đảo này.  
Những hiện vật thu được trong những đợt khảo cổ ở Lý Sơn cho thấy, từng có một thời, Lý Sơn là nơi giao thương giữa các chủ nhân của nhiều nền văn hóa, có cả Đông Sơn xen với Sa Huỳnh, có Champa lẫn với một số nền văn minh ở Đông Nam Á. Điều này đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khảo cổ trong và ngoài nước, cũng như tạo nên sự hấp trong con mắt khách phương xa… Đảo có nhiều hoạt động văn hóa truyền thống của ngư dân miền biển như Lễ hội đua thuyền tứ linh đầu xuân, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 2 và tháng 3 (Âm lịch) hàng năm… Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ nhiều tư liệu quan trọng minh chứng quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.  
Tới Lý Sơn, du khách cũng được thưởng thức những hải sản độc đáo “ngon, bổ, rẻ” như món rong bìm bìm - một loại rong biển dường như chỉ có ở vùng biển này. Mực ở đây to, trắng và thơm ngon. Nhiều loài ốc, cá biển ở những vùng biển khác phải ganh tị. Món canh cá tà ma chua cay vị ngọt đậm đà, săn chắc và màu sắc bắt mắt, không “đụng hàng” với bất kỳ món đặc sản nào. Thực khách cũng sẽ được “khuyến mại” những nụ cười tươi rói, hồn hậu, thật thà chân chất của chủ quán cùng những câu chuyện càng nghe càng hấp dẫn, kỳ bí đến vô tận về hòn đảo này. Và khi đã ngà ngà say, bạn có thể ngả lưng trên võng ở gian ngoài nhà hàng, hay nằm trên phản của chủ nhà, dưới làn gió biển hiu hiu mát rượi, đánh một giấc ngon lành như ở nhà mình mà không phải nề hà, e ngại.
Tất nhiên, tỏi là đặc sản, trở thành thương hiệu nức tiếng của Lý Sơn. Tỏi có mặt ở khắp nơi trên đảo: trong giỏ ở quán ăn, treo lủng lẳng ở cửa nhà, chất thành đống trong sân, bày bán ở chợ. Những ánh tỏi nhỏ bé, trắng phau, giòn thơm và có vị cay không thể lẫn với những loại tỏi khác. Tỏi mồ côi ở Lý Sơn có thể ngâm rượu và dùng làm thuốc chữa nhiều lại bệnh về hô hấp, tiêu hoá, xương khớp… Điều kỳ lạ là giống tỏi này chỉ sống ở trên cát trắng ở hòn đảo đầy nắng gió, giống như triết lý về sự vượt khó vươn lên để gặt hái quả ngọt của bao thế hệ người dân nơi đây. Khi ra về, khách phương xa không quên mua vài ký tỏi để làm quà. Và khi người nhận cầm những ánh tỏi trắng thơm trên tay, họ sẽ nghĩ ngay tới Lý Sơn.
Điều đặc biệt khiến chúng ta phải cảm phục, trân trọng, đó là người dân đảo sống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Một cán bộ huyện nói rằng, những ngày biển động, đảo lớn, đảo bé bị cô lập hoàn toàn và người dân lúc đó không thể không giúp nhau về cái ăn, cái mặc. Nếu như kiểu “đèn nhà ai nấy rạng” như người thị thành chắc họ chết đói mất!
4. Ngày 28/9/2014, dự án cấp điện từ hệ thống điện quốc gia cho huyện đảo Lý Sơn bằng cáp ngầm chính thức đi vào hoạt động. Đây là niềm mong ước bao đời nay của người dân huyện đảo, một tiền đề quan trọng để phát triển du lịch, phát triển kinh tế biển và nâng cao đời sống của hơn 2 vạn người dân đang sinh sống nơi đảo tiền tiêu. Nếu như trước đây, người dân chỉ được sử dụng điện 6 giờ mỗi ngày từ nguồn phát điện bằng diesel, thì đến hôm nay, người dân huyện đảo Lý Sơn đã được sử dụng điện lưới quốc gia liên tục, ổn định 24 giờ mỗi ngày. Tết Ất Mùi này, sau hơn 20 năm thành lập, Lý Sơn sẽ được đón Giao thừa giữa lung linh ánh điện, thỏa khao khát của những người dân can trường nơi đầu sóng ngọn gió, thắp lên hy vọng để bà con vươn lên làm giàu từ biển./.

ẤM TÌNH TẾT THA PHƯƠNG...


Với hơn 220.000 người Việt đang học tập, sinh sống tại vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc), không phải ai cũng có điều kiện trở về quê hương đón Tết. Vì thế năm nào cũng vậy, mỗi dịp cận Tết, nhà hàng Minh Ký của vợ chồng anh Ngô Càn Minh, ở số 536/1 nằm trên đường Khang Ninh, thành phố Đài Bắc, đông đảo người Việt lại tụ tập tại đây để cùng nhau sửa soạn Tết. Anh Ngô Càn Minh, từ Sài Gòn sang Đài Loan đã hơn 20 năm chia sẻ: Đã mấy chục năm đón Tết xa Tổ quốc, thế nên được gặp đông đảo bà con, anh thực sự xúc động như gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Tất niên tại nhà hàng cũng là dịp để anh tri ân những người Việt tại Đài Loan đã chung lưng đấu cật cùng vợ chồng anh trong suốt những tháng ngày cơ cực khi đặt chân tới mảnh đất này, tạo cơ hội cho bà con có một cái Tết xa quê – tuy chưa thể bằng ở Việt Nam, nhưng ấm cúng, thắm đượm tình người con đất Việt.



Những người Việt Nam dự buổi tất niên thuộc nhiều thành phần: trí thức, lao động, cô dâu. Họ mang theo cả thế hệ “F2” để các cháu cảm nhận được không khí Tết truyền thống quê ngoại. Mọi người tíu tít hỏi thăm sức khỏe, tình hình công việc, chia sẻ những kỷ niệm đón Tết tại quê nhà thuở ấu thơ và cùng nhau gói bánh chưng xanh, trang trí ban thờ, đào quất, mâm ngũ quả… Dù tất niên xa quê, nhưng từ lá dong, lạt giang, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, khuôn làm bánh đều đủ cả. Nồi luộc bánh chưng cũng đã được chất củi đun. Nhiều người mắt đã cay cay, không phải vì khói bếp lan tỏa khắp nơi, mà xúc động trước tình cảm của những người con xa quê dành cho nhau.  
Chị Trương Thị Bích ở Lý Nhân, Hà Nam sang làm giúp việc gia đình tại Đài Loan từ năm 2003. Năm đầu tiên sang đây, chị được cùng cộng đồng người Việt tại Đào Viên tổ chức ăn tất niên. Năm nay, chị được về Đài Bắc ăn Tết cùng mọi người, và cứ thế đã 11 cái Tết chị xa tổ ấm gia đình. Ngày Tết, khi những phụ nữ tất bật chăm lo cho gia đình, chồng con, thì chị lại tất tả khăn gói sang Đài Loan đi lo Tết cho người khác để kiếm tiền thu vén cho con cái học hành. Những lúc như thế này, nỗi nhớ nhà, nhớ chồng con, bố mẹ, quê hương trong chị lại trỗi dậy. Chị Bích tâm niệm, vì mưu cầu cuộc sống nên bản thân phải bươn chải, hy sinh một đoạn ngắn của cuộc đời để có thể làm gì đó cho tương lai của mình và con cái ở quê nhà. Chị Bích kể: “Buồn nhất là 3 năm đầu tiên khi sang đây. Bữa cơm 30 Tết xa quê mà nước mắt lưng tròng. Song tôi nghĩ phải đặt niềm tin và nghị lực cho mình. Tôi may mắn được nhà chủ rất tốt bụng và hết sức tạo điều kiện, nên phải cố gắng để làm sao đời con không khổ như mình. Đã bước chân ra đi làm việc tha phương thì phải xác định khổ hơn ở nhà. Tôi mong thế hệ của chúng tôi ra đi làm việc ở nước ngoài, thì thế hệ con cháu ở trong nước có công ăn việc làm ổn định, sẽ không phải tha phương làm thuê nữa”.
Giống như chị Bích, chị Đặng Thị Phương Lan, quê ở Thanh Ba, Phú Thọ, sang làm giúp việc gia đình tại Đài Loan đã được 12 năm. Chị chỉ có thể về thăm gia đình vào dịp hè, khi đó gia đình chị mới được sum vầy bởi đứa con lớn của chị đang du học ngành Văn hóa tại Nhật Bản. Theo chị Lan, là một người mẹ, người vợ, những ngày giáp Tết ai cũng muốn về ăn Tết với gia đình, bởi chỉ có ở Việt Nam, chúng ta mới có thể hưởng một cái Tết trọn vẹn, đầy ý nghĩa nhất. Mở trang Facebook cho chúng tôi cùng xem, chị Lan cho biết, anh chị và các con có thể lên mạng nói chuyện với nhau bất cứ lúc nào. Mỗi đêm Giao thừa xa quê, đón Tết Việt qua… webcam, chị lại thấy mình như có lỗi với gia đình. Song, những buổi tất niên, gặp mặt đầu Xuân, những chương trình văn nghệ do cộng đồng người Việt ở Đài Bắc tổ chức đã giúp những người con xa quê xích lại gần nhau hơn, cảm thấy nghĩa tình ấm áp như đang ở quê nhà.
Với chị Nguyễn Thị Liên Hương, giảng viên tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam tại Đại học Đài Loan (Trung Quốc), Tết Ất Mùi này là thêm một mùa Xuân chị đón Giao thừa xa Tổ quốc. Dẫu biết rằng, thời buổi công nghệ thông tin hiện đại, chỉ cần một cái nhấp chuột trên máy tính, chị đã có thể kết nối, trò chuyện với người thân ở Hà Nội, nhưng cứ nhắc đến Tết, chị lại rưng rưng, đôi khi ngẩn ngơ chẳng làm được việc gì. Là một phụ nữ thành đạt, năng động, tuy quanh năm bận bịu với công việc giảng dạy, biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho học sinh sở tại, rồi chăm sóc con cái song chị nhớ Việt Nam, nhớ Hà Nội, nhớ mẹ, nhớ người cha quá cố nhất là mỗi dịp Tết đến, Xuân về.
Chị kể, hễ nhìn thấy một cành đào, một cành mai, hay nghe một giai điệu bài hát về Tết tự dưng chị lâng lâng và cứ nghĩ giá như mình được về nhà. Chị Hương bảo, với người Việt xa quê, chỉ một hình ảnh về Tết, dù rất mơ hồ, cũng khiến họ bồi hồi da diết. Để các con nhỏ của mình hình dung về Tết quê ngoại, chị Liên Hương đã chuẩn bị bánh chưng, bánh tét, giò chả, bánh cốm, nem cuốn... Chị cho các con mặc áo dài truyền thống, cùng chồng tét bánh chưng xanh để cả nhà cùng thưởng thức hương vị dẻo thơm, ngọt ngào, đậm đà Tết Việt. Với chị, âm nhạc cũng là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ thêm yêu cái Tết quê ngoại, vì thế cậu con trai 7 tuổi Ngô Thừa Hạo của chị đã thuộc lòng giai điệu bài hát “Ngày Tết quê em”. Mỗi khi được mẹ bật bài hát này lên, tâm hồn thơ ngây của cậu đã có thể mường tượng về cái Tết đầm ấm của quê mẹ và lẩm nhẩm hát theo: “Tết Tết Tết Tết đến rồi, Tết đến trong tim mọi người… Dù đi đâu ai cũng nhớ, về chung vui bên gia đình”.
Với cuộc sống hiện đại ngày nay, sẽ không quá khó để kết nối những người con xa quê với người thân ở Việt Nam. Những ngày giáp Tết, qua Facebook, mẹ chị nói với con gái rằng bà mới đi sắm Tết về. Với người con xa Tổ quốc như chị, hai tiếng “sắm Tết” thật thiêng liêng, chất chứa bao kỷ niệm ấu thơ. Lúc đó, chị muốn cùng mẹ hòa mình vào dòng người ở phố xá Hà Nội đông đúc, được điểm xuyết bằng những cành đào quất Nhật Tân, bưởi Diễn, được xách giỏ theo mẹ ra chợ Bưởi và trở về tay xách nách mang nào là măng, miến, mộc nhĩ, nấm hương, giò chả, dưa hành…
Những người Việt tôi gặp tại đây, mỗi người một công việc, cương vị khác nhau song đều nói rằng, người Đài Loan tôn trọng tín ngưỡng của những người di dân mới, nên họ hoan nghênh người Việt đón Tết Nguyên đán theo tập quán của dân tộc. Tết của người Đài Loan không có bánh chưng, bánh tét, vì thế họ rất tò mò về những nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực ngày Tết của ta. Chị Trương Thị Bích cho biết thêm: Bất cứ người Đài Loan nào muốn tìm hiểu về Tết Việt, chị luôn vui vẻ giải thích để họ hiểu rằng Tết truyền thống của Việt Nam không giống như ở các nước khác và rất đặc biệt.
Có người hỏi chị Bích là tại sao Tết Việt Nam lại gói bánh chưng vuông? Chị giải thích rằng bánh chưng dẻo thơm, kết dính tượng trưng cho khối đoàn kết của Việt Nam, “trời tròn đất vuông”. Trong bánh chưng có rất nhiều thành phần, từ hạt gạo nhỏ mang nặng mồ hôi nước mắt của người nông dân, lá dong bên ngoài thể hiện sự đùm bọc của cha mẹ, của đất nước với người con Việt Nam. Vì thế rất nhiều người Đài Loan đã hiểu được biểu tượng rất đẹp của bánh chưng xanh.
Trở về Việt Nam, tôi nhận được những lời chúc mừng năm mới “mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt” của cộng đồng người Việt tại Đài Loan. Những lời chúc chẳng bao giờ sáo mòn, cũ kỹ, luôn chất chứa nghĩa tình ấm ám của những người “con Lạc, cháu Hồng”. Với tôi, họ thực sự là những sứ giả, những nhà ngoại giao nhân dân đem hình ảnh đặc sắc của Tết Việt tới bạn bè quốc tế./.

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

TẢ PHÌN ĐÓN XUÂN TRONG MÂY



Chúng tôi đến Tả Phìn vào những ngày đông giáp Tết Ất Mùi trong cái rét cắt da cắt thịt. Cách thị trấn Sa Pa (Lào Cai) về phía Tây Bắc khoảng hơn 10km, con đường dẫn vào xã Tả Phìn được chắn bởi một chiếc barie và có người thu phí. Khi chúng tôi xuất trình công lệnh công tác, người gác chắn vui vẻ “cho qua” và không quên chúc chúng tôi có chuyến hành trình nhiều niềm vui, khám phá nhiều điều mới mẻ về điểm du lịch hấp dẫn của bất kỳ du khách nào trong tour du lịch Sa Pa.
Giữa cái rét khoảng 5 độ C, con đường nhỏ rải bê tông, ngoằn ngoèo uốn lượn vào Tả Phìn qua những đèo dốc, ruộng nương được trùm lên một màu sương giăng dày đặc, trắng xóa. Những đám mây bồng bềnh, lững lờ trên những thửa ruộng bậc thang xếp từng lớp mịn màng như nối dài lên tận trời cao. Ẩn trong sương mờ hai bên đường, thấp thoáng những nông dân người Mông đang chăm sóc vườn địa lan, hay những vườn atiso xanh biếc chuẩn bị cho mùa thu hoạch dịp Tết Nguyên đán. Những phụ nữ địu con trên lưng bình thản đi về, gặp chúng tôi lại dơ tay vẫy, cười tươi; những bé gái đôi má ửng đỏ vì rét ngơ ngác nhìn theo khách lạ… Bác tài xế nói rằng “mùa này lên Tả Phìn là thế, tuy ẩm ướt, lép nhép, nhưng mới thực sự cảm nhận được cuộc sống, hơi thở của người dân nơi đây”.  


Nếu như thị trấn Sa Pa quyến rũ du khách với nhà thờ cổ trầm mặc, những khu phố “toàn tây” đông đúc, nhộn nhịp bán mua, những Thác Bạc, Cầu Mây, của chợ tình với đa số thanh niên mặc quần tây, dùng điện thoại xịn… thì Tả Phìn níu chân người bởi vẻ mộc mạc, chất phác của người Mông, Dao đỏ; của Tu viện cổ, tuy nổ nát, hoang phế do chiến tranh nhưng vẫn sừng sững giữa rừng, lưu giữ những nét kiến trúc và giá trị văn hóa độc đáo. Bên cạnh đó không thể không nhắc tới miếu thờ người có công khai khẩn lập nên Tả Phìn ngày nay. Nơi đây, vào mùa Xuân, người dân Tả Phìn lại tổ chức các nghi thức lễ hội để tưởng nhớ người xưa.
Tả Phìn ngày Tết còn hấp dẫn khách thập phương bằng “Tết Nhảy” của dân tộc Dao đỏ. Theo đó, bắt đầu từ ngày 28 Tết, đồng bào đã mổ lợn, gà, làm bánh nếp… rồi anh em họ hàng cùng nhau quây quần tại nhà trưởng họ, nâng chén rượu mừng Xuân, cầu chúc cho nhau một năm mới an lành, hạnh phúc, cũng như chuẩn bị cho việc tổ chức nghi lễ “Tết Nhảy”. “Tết Nhảy” được người Dao đỏ chuẩn bị kỹ lưỡng, luyện tập nhuần nhuyễn các điệu nhảy múa như múa cò “pẹ họ”, điệu nhảy mời thần linh ăn Tết hay những bài hát ca ngợi tổ tiên, tái hiện các sinh hoạt dệt vải, săn bắn… Đây là sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong những ngày đất trời “giao ban” trên núi cao Tả Phìn. 
Được biết, tận dụng sự ưu đãi của thiên nhiên, nghề trồng địa lan tại Tả Phìn đang trên đà phát triển mạnh mẽ, nhiều gia đình thu nhập trăm triệu mỗi năm. Mỗi chậu địa lan có giá trên thị trường từ 500.000 đồng - 5 triệu đồng, thậm chí hơn tùy số lượng hoa nở. Những ngày cận Tết, thương lái dưới xuôi sẽ lên thu mua rất nhộn nhịp. Du khách cũng tìm mua lan Tả Phìn đem về chơi Tết cho thỏa đam mê. Chúng tôi gặp bác Vàng A Chảo, 70 tuổi, khi bác đang chăm sóc cho vườn địa lan trước nhà. Bác Chảo cho biết, ngoài những hộ làm du lịch, kinh tế Tả Phìn chủ yếu dựa vào phong lan và cây atiso. Vợ chồng bác Vàng A Chảo năm nay trồng 400 chậu lan. Nếu thời tiết thuận lợi sẽ thu lãi cả trăm triệu đồng vào dịp Tết. Thế nhưng những ngày có tuyết rơi đợt đầu tháng 1 Dương lịch vừa qua, bác phải sơ tán lan xuống vùng thấp, làm lán che phủ cho số còn lại rất tốn kém, nên năm nay thu lãi chỉ khoảng 50 triệu đồng.
          Vợ chồng bác Vàng A Chảo sinh được 10 người con, 8 trai, 2 gái. Bác đã dựng vợ gả chồng cho cả 10 người và không phụ thuộc kinh tế vào đứa con nào cả. Ngoài trồng lan, bác còn làm ruộng, nuôi 3 con trâu, được dân làng yêu mến và học tập làm theo để phát triển kinh tế. Tết này, bác sẽ trang trí nhà cửa thật đẹp, mổ mấy con vịt, ngan để thết đãi con cháu, họ hàng. Bác Vàng A Chảo tâm sự: “Con cái có đứa kinh tế còn yếu, chưa bằng bố, thì mình tuyên truyền và dạy cho nó trồng phong lan để cho thu nhập. Bác theo Tin lành nên thường khuyên răn con cháu không được uống rượu say, đánh nhau gây mất đoàn kết, không nghe theo cái xấu, không trộm cắp và chăm lo làm kinh tế, thu vén cho gia đình. Bác mong mưa thuận gió hòa để phong lan Tả Phìn năm nay trúng mùa để bà con có cái Tết no đủ”.
          Để chống chọi với giá rét, trong mỗi ngôi nhà của đồng bào Tả Phìn đều có bếp lửa sưởi ấm. Anh Giàng A Của, Trưởng thôn Giang Tra dẫn chúng tôi về nhà và nhóm bếp. Trên gác bếp nhà anh treo lủng lẳng những thớ thịt lợn, gọi là thịt hun khói. Lợn “cắp nách” ở Tả Phìn chủ yếu “tự túc” thức ăn nên thịt thơm ngon, săn chắc. Thịt lợn gác bếp chính là món ăn không thể thiếu trong ngày Tết của bà con. Gia vị tẩm ướp cùng với vị khói bếp củi hun lâu ngày khiến miếng thịt trở nên đậm đà. Ngồi bên bếp lửa, nhấp chút rượu ngô ấm nóng, nhai thớ thịt lợn gác bếp dai ngọt, cả khách và chủ cùng ngây ngất với những câu chuyện nhân tình thế thái, chuyện của dân làng, chuyện sắm Tết. Ngày Tết cổ truyền, người dân tộc ở đây thường mời nhau đi uống rượu lần lượt từng nhà, khi nào đến hết nhà cuối cùng trong bản mới… hết Tết, do đó tửu lượng của bà con cũng rất đáng nể. Song theo anh Của, uống để vui, để chúc nhau những điều tốt đẹp chứ không dùng rượu để “diệt” nhau.
Anh Giàng A Của sẵn sàng tạo điều kiện cho chúng tôi ngủ lại qua đêm tại nhà, “không phải xuống phố” để hôm sau có thể đón bình minh Tả Phìn thật sớm. Người Tả Phìn vốn chân chất, mộc mạc. Thế nên dù giữa cảnh ồn ã của ngành công nghiệp không khói, khi Tả Phìn đón những du khách từ phía bên kia bán cầu về thăm, thì họ vẫn vậy – chân thành và nồng ấm. Anh Giàng A Của chia sẻ, điều khiến anh trăn trở chính là người Tả Phìn đa số thạo tiếng Kinh, một số nói được tiếng Anh nhưng lại không biết viết, biết đọc chính ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Mông của mình. Anh nói, khi đồng bào biết làm du lịch, có nghĩa sự giao lưu đã được mở rộng với thế giới bên ngoài, vì thế ngoài tiếng Kinh, bà con rất cần được học cái chữ của mình để hiểu rõ hơn bản sắc của dân tộc để còn quảng bá với du khách…  
Cùng với người Mông, người Dao đỏ ở Tả Phìn đã biết làm du lịch “homestay” cùng với “đặc sản” là nghề dệt thổ cẩm và đặc biệt là tắm thảo dược. Người Dao đỏ được tổ tiên truyền lại cho nhiều bài thuốc quý chữa bệnh mà không ở đâu có được, nói như bà con thì “nó làm khỏe người lắm à”. Bài thuốc ngâm chân được kết tinh từ hàng chục loại thảo dược có tác dụng chữa trị bệnh nhức mỏi xương cốt, thấp khớp. Bài thuốc tắm giúp cơ thể thư giãn, thoải mái, làm tan biến mọi mệt mỏi khiến du khách không khỏi xuýt xoa và mong muốn được quay trở lại thưởng thức thêm nhiều lần nữa. Dịch vụ độc đáo này đã giúp đồng bào phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, danh tiếng của Tả Phìn cũng theo đó lan tỏa muôn phương.  
Đi dọc các thôn của Tả Phìn, dễ dàng nhận thấy thấp thoáng bên những ngôi nhà của đồng bào bên sườn núi, những cây đào rừng đã chúm chím nụ giữa mùa đông giá rét, chờ nắng Xuân lên để cùng nhau nở bung khoe sắc. Những phụ nữ Mông, Dao đỏ ngồi bên bếp lửa với nụ cười rạng rỡ chào đón khách tới thăm; những em bé mà đỏ hây hây, cười khúc khích khi chúng tôi dơ máy ảnh lên chụp. Giữa màn sương giăng mờ mịt trên đỉnh núi cao, dường như Xuân đang gõ cửa từng nhà./.

TỚI TRƯỜNG SA ĐỂ “NGHE TỔ QUỐC GỌI TÊN MÌNH”


Tôi là một trong những nhà báo vinh dự được theo đoàn công tác của Bộ Thông tin – Truyền thông và Ban Tuyên giáo Trung ương ra thăm quân và dân quần đảo Trường Sa – Khánh Hòa trên tàu HQ561. Hồi hộp, háo hức, chuẩn bị “đồ nghề” tác nghiệp… trước đó cả mấy ngày. Những đồng nghiệp cùng cơ quan đã từng ra Trường Sa không quên “bồi dưỡng” những kỹ năng cũng như truyền đạt kinh nghiệm cần thiết khi tác nghiệp ở Trường Sa, để tôi vững tâm hoàn thành nhiệm vụ nơi “đầu sóng, ngọn gió”. Rồi cái ngày mong chờ đó cũng tới. Tàu HQ561 như chàng Phù Đổng dũng mãnh vượt sóng suốt gần 2 ngày đêm đưa chúng tôi từ Quân cảng Cam Ranh tới phần chủ quyền máu thịt nơi cực Đông của đất nước.


Tới Trường Sa, ai cũng là phóng viên
Trong chuyến thăm đảo, phóng viên luôn được “ưu tiên” rời tàu xuống xuồng trước và tất nhiên, là những người đầu tiên trong đoàn công tác được đặt chân lên các đảo. Trong tâm khảm, chúng tôi luôn háo hức, ngập tràn cảm xúc và mong muốn đem đến cho độc giả, khán thính giả những tác phẩm báo chí hay nhất, tâm huyết nhất, phản ánh sinh động và chân thực nhất về đời sống của cán bộ, chiến sỹ, nhân dân trên đảo, cũng như tuyên truyền về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Nhà báo Đình Quân – Báo Tiền Phong nói với tôi rằng: “Trách nhiệm, sự đóng góp của nhà báo không gì hơn là qua bài viết. Nhà báo viết về chủ quyền biển đảo càng phải hiểu sâu sắc về vấn đề này. Mỗi bài báo về Hoàng Sa, Trường Sa cần phải giúp mọi người dân Việt thêm đoàn kết, đồng lòng cùng Chính phủ trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền. Tôi viết bài về chủ quyền biển đảo với suy nghĩ, tâm niệm đó”. Đúng như anh Đình Quân nói, có ra Trường Sa mới thấy hết trọng trách được đặt lên ngòi bút của mỗi nhà báo. Đó không chỉ đơn thuần là phản ánh hay “lật ngược” một vấn đề, càng không có đất để đưa những thông tin rẻ tiền, “câu view” – mà chính là trọng trách, là niềm tin được gửi gắm từ hàng chục triệu trái tim người Việt Nam đang đau đáu hướng về Trường Sa, một phần lãnh thổ không thể tách rời, mà bao thế hệ cha anh, bao người con ưu tú đã đổ xương máu để gìn giữ.
Và những câu chuyện mắt thấy, tai nghe ở Trường Sa cũng như trong chuyến công tác đã giúp tôi hiểu hơn về tình cảm quân dân, định hướng cho tôi trong từng tác phẩm báo chí. Tôi còn nhớ câu chuyện của anh Nguyễn Bùi Khiêm, Ban Tổ chức Trung ương. Trước khi ra Trường Sa, anh đã lặn lội lên đất Tổ Hùng Vương xin một cây đa đem ra trồng tại thị trấn Trường Sa. Khi làm thủ tục bay tại Sân bay quốc tế Nội Bài, các nhân viên mặt đất nói rằng để đem một cái cây lên máy bay phải qua nhiều khâu kiểm định và cây đa này cũng không phải ngoại lệ. Nhưng khi nghe anh trình bày lý do, các nhân viên đã rất vui vẻ và nhiệt tình giúp anh vận chuyển cây lên tàu bay. Qua anh, họ còn gửi lời thăm hỏi tới các chiến sỹ nơi đảo xa, chúc các anh vững tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thế mới thấy hai tiếng “Trường Sa” luôn thường trực sâu thẳm nhường nào trong tâm thức của mỗi người con đất Việt.
Có người nói rằng, ra Trường Sa vất vả nhất và cánh phóng viên: lên đảo trước, rời đảo sau, giữa cái nắng 39 – 40 độ C vẫn lỉnh kỉnh máy móc chạy phăm phăm để tác nghiệp… Nhưng với tôi, điều đó chưa nói lên tất cả. Tới Trường Sa, tôi cảm nhận rằng, mỗi thành viên trong đoàn công tác đều là những phóng viên thực sự. Trên tay mỗi người đều có thiết bị ghi hình, chụp ảnh để lưu lại những khoảnh khắc đẹp nhất, ấn tượng nhất về Trường Sa, về biển đảo để khoe cùng bạn bè. Và điều quan trọng nhất, đó là khi tới Trường Sa, ý thức, niềm tự hào trong mỗi người trỗi dậy. Những người tôi phỏng vấn đều tâm niệm rằng, tới đây mới thêm yêu Tổ quốc và dù chỉ một lần được tới Trường Sa đã là niềm tự hào trong đời. Họ nói nhìn những em bé đẹp như tranh vẽ chạy lon ton trên đảo, những chú cún con thấy khách tới đều vẫy đuôi ríu rít, những phụ nữ mặc áo dài thướt tha với chiếc nón lá truyền thống, bên cạnh những người chiến sỹ Hải quân… Tất cả dường như muốn chậm lại, không còn cảnh khói bụi, bon chen, ồn ã. Khi về đất liền, họ sẽ kể cho bạn bè, người thân, con cháu về Trường Sa, về những điều có thật đang hiện hữu rất gần chứ không “ảo” nhưng trong sách vở. Chính những thành viên chuyến công tác là những “kênh” tuyên truyền hữu hiệu nhất. Anh Phan Văn Long, công tác tại Ban Tuyên giáo Trung ương khi trả lời phỏng vấn đã rất xúc động: “Có thể ai đó cho rằng đóng góp cho Tổ quốc là khá trừu tượng, nhưng khi ra đến Trường Sa, tôi thấy thực sự không có gì xa vời trong tư tưởng. Tôi khuyên các con mình ngoài trách nhiệm phải học hành giỏi giang để khẳng định bản thân, các con phải sống cho xứng đáng với những gì mà nhiều chiến sỹ Trường Sa đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất nơi phên dậu Tổ quốc”.
Thêm những người anh em, bằng hữu
Bước chân từ xuồng lên các đảo, chúng tôi được những cánh tay rắn rỏi, vạm vỡ, sạm đen vì nắng gió của các chiến sỹ Hải quân dìu lên bờ. Không thể kể xiết niềm vui gặp gỡ dù trước đó chúng tôi chưa hề quen nhau. Chỉ một ánh mắt nhìn, một cái xiết chặt tay hay một cái ôm vội vã, quân và dân đã hòa thành một, nói cười thân tình như anh em ruột thịt, như tình bẵng hữu lâu ngày gặp lại. Tôi may mắn được gặp thầy giáo Lê Anh Đức, người đang “gieo chữ” ở những lớp học rất đặc biệt tại xã đảo Sinh Tồn. Quê gốc ở Thọ Xuân, Thanh Hóa, tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm, Lê Anh Đức viết đơn tình nguyện ra đảo. Từng tham gia thanh niên tình nguyện tại những vùng khó khăn của Khánh Hòa khi còn là sinh viên, nên Đức tâm niệm phải đem nhiệt huyết của tuổi trẻ cống hiến cho Tổ quốc. Niềm đam mê được đứng trên bục giảng và tình yêu vô bờ Đức giành cho những học trò nhỏ nơi đây đã tiếp thêm sức mạnh cho Đức bám trụ với đảo. Với tôi, giờ Đức thân thiết như người em trai của mình, bởi dù xa xôi, chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc và Đức sẵn sàng cung cấp cho tôi những thông tin “nóng hổi” nhất về ngôi trường được xây dựng từ Quỹ Vừ A Dính để thông tin trên báo.
Ở đảo Sơn Ca, tôi cũng đã gặp người đồng niên, chiến sỹ Nguyễn Duy Chinh, quê ở xã Đồng Thái, An Dương – Hải Phòng. Anh và cô gái Hoàng Thị Mai, người cùng quê nên nghĩa vợ chồng qua mục kết bạn của Báo Tiền Phong, thế nên anh rất mến cánh nhà báo. Câu chuyện của vợ chồng Chinh – Mai khiến tôi thêm cảm phục tấm lòng người phụ nữ ở hậu phương chăm lo cha mẹ già, con cái để người chiến sỹ vững tay súng nơi tiền tuyến. Lúc chia tay, Chinh nắm chặt tay tôi, gương mặt cười tươi, nhưng tôi đọc được niềm xúc động trong ánh mắt. Về đất liền, tôi chẳng có gì làm quà ngoài việc phóng to tấm hình chụp Nguyễn Duy Chinh tại đảo Sơn Ca gửi chị Mai, để mỗi ngày chị và hai con luôn được ngắm nhìn bố và thấy bố khỏe mạnh, vui tươi…
Tới Trường Sa để “nghe Tổ quốc gọi tên mình”
          Trong chuyến công tác, tôi đã có nhiều lần không kìm được những dòng nước mắt. Đó là khi diễn ra nghi lễ tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ hy sinh tại quần đảo Trường Sa, cũng như ở thềm lục địa phía Nam (nhà giàn DK1) được lực lượng Hải quân tiến hành trang nghiêm, xúc động. Bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng cao cả, là mệnh lệnh trái tim của người lính Hải quân. Trong cuộc chiến đấu đó, nhiều chiến sỹ đã anh dũng hy sinh, gửi lại hình hài nơi lòng biển cả bao la. Khi ba hồi còi tàu và tiếng nhạc “Hồn tử sỹ” vang lên giữa biển khơi, ai cũng cố nén những giọt nước mắt chực trào ra. “Hương trầm quện gió thoảng quanh/Vòng hoa đất mẹ dệt thành huân chương” – các anh đã ngã xuống trên đảo Gạc Ma cũng như thềm lục địa phía Nam để giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Tôi như thấy lấp lánh giữa sóng biển Đông là dáng hình của những người con ưu tú. Mỗi bông hoa cúc vàng được thả xuống lòng biển xanh biếc đem theo lời nhắn các anh hãy yên lòng, có chúng tôi đang sát cánh cùng các chiến sỹ canh giữ biển trời và hẹn một ngày được đón các anh về với Mẹ…
          Đại úy Trương Hồng Phượng, Chỉ huy đảo Cô Lin khẳng định, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo Tổ quốc đã được các chiến sỹ quán triệt sâu sắc bằng ý chí quyết  tâm sẵn sàng chiến đấu và chấp nhận hy sinh, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân cả nước. Ngày nay, đã có những chiến sỹ rất trẻ đã anh dũng hy sinh và nằm lại với quân và dân Trường Sa. Tới thăm nghĩa trang trên đảo Nam Yết và thị trấn Trường Sa, mỗi thành viên chúng tôi thêm một lần lắng đọng, kính cẩn nghiêng mình trước các anh và soi lại chính mình. Hình ảnh người cựu chiến binh Dương Mạnh Lâm, hiện công tác tại Sở Thông tin truyền thông Quảng Bình nghẹn ngào khi “gặp đồng hương” là một chiến sỹ trẻ yên nghỉ tại nghĩa trang Nam Yết khiến tôi nhớ mãi. Ông xúc động làm thơ tặng người đi xa: “Thắp sáng niềm tin với đảo xa/Nén lòng xúc động với quê nhà/Tâm nguyện hy sinh vì Tổ quốc/Hương bay, hương nối với người xa”…
          Thời điểm Trung Quốc ngang ngược kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. Hơn lúc nào hết, những nhà báo từ Trường Sa trở về xác định trọng trách nặng nề hơn trong mỗi bài viết. Những tác phẩm báo chí của những nhà báo từng tới Trường Sa thời điểm điểm giấy giờ mang đậm hơi thở của Trường Sa, biển đảo. Những trải nghiệm ở Trường Sa, nhà giàn DK1 trong thời điểm “biển động” đã biến những tác phẩm báo chí thành vũ khí sắc bén trên mặt trận đấu tranh với Trung Quốc, đoàn kết cùng nhân dân trong và ngoài nước bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo.
          Những nhà báo như chúng tôi rất cảm động khi được Chuẩn Đô đốc Nguyễn Ngọc Tương, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Hải quân động viên, khích lệ trong khi tác nghiệp tại Trường Sa. Ông nói: “Tôi trân trọng và ghi nhận tất cả tình cảm của anh em báo chí mỗi lần ra với biển đảo. Phóng viên ra đảo đều là những người có tinh thần nhiệt huyết, tận tâm với công việc, sáng tạo trong công tác tuyên truyền, tâm huyết với nghề nghiệp. Những sản phẩm báo chí của họ mang cả trái tim, khối óc, trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo Tổ quốc và trước quốc gia, dân tộc. Trách nhiệm công dân của các nhà báo phát huy rõ nét mỗi lần họ lên từng điểm đảo, từng đảo, nhà giàn, đến với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên quần đảo Trường Sa”.
          Đón Tết ở Trường Sa cũng là thực hiện nhiệm vụ
          Những ngày giáp Tết Ất Mùi này, hàng triệu trái tim của quân và dân cả nước càng hướng tới Trường Sa nhiều hơn. Những con tàu Hải quân lần lượt rời Quân cảng Cam Ranh đưa cán bộ, chiến sỹ cùng hàng trăm tấn hàng hóa thiết yếu như lợn, gà, gạo nếp, bánh kẹo, hoa quả, rau xanh, đào, quất, lá dong, đậu xanh… ra các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, phục vụ quân và dân trên đảo đón Tết. Cùng với đất liền, người dân và chiến sĩ Trường Sa cũng háo hức chuẩn bị đón Tết đến, Xuân về trong không khí thật đầm ấm. Ở hầu hết các đảo nổi, các chiến sĩ đều trồng rau, chăn nuôi lợn gà, góp phần cải thiện đời sống. Thế nên bên cạnh những phần quà từ hậu phương gửi tặng, những sản phẩm “cây nhà lá vườn” của người lính đã góp phần làm cho mâm cơm ngày Tết của các anh không khác xa so với đất liền.
          Khi tôi hỏi các chiến sỹ rằng các anh đã đón bao nhiêu cái Tết xa nhà và cảm xúc như thế nào? Tất cả đều cười tươi, nói rằng “nhiều lắm” và đón Tết ở đơn vị cũng là thực hiện nhiệm vụ quân đội và nhân dân giao phó. Tết này, chiến sỹ Nguyễn Duy Chinh thêm một lần xa vợ con. Anh chia sẻ, dẫu biết rằng không hạnh phúc gì hơn được quây quần bên gia đình trong mâm cơm ngày Tết, song ở đảo Sơn Ca đầy nắng gió, anh vẫn ngập tràn niềm vui bên những người đồng đội thân thiết, gắn bó như ruột thịt. Những ngày giáp Tết, anh và đồng đội háo hức dọn dẹp, trang trí phòng ở, đơn vị để cố gắng tạo ra không khí ngày Tết ấm cúng như trong đất liền. Trên bàn thờ cũng đầy đủ mâm ngũ quả, bánh chưng xanh, bánh tét… cùng lá cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm được treo trang trọng. Từ những cành phong ba, bằng óc sáng tạo và đôi tay khéo léo, các anh đã tạo nên những cành hoa rực rỡ trong nắng Xuân, những “bông hồng” làm từ ốc biển được cắm trang trọng trong bình như góp thêm hương sắc Xuân trên đảo tiền tiêu của Tổ quốc.

          Với sự tiếp sức từ đất liền cùng nỗ lực của mình, quân và dân Trường Sa cùng nhân dân cả nước náo nức đón chào một mùa Xuân mới với niềm tin và thắng lợi mới. Với các anh, những ngày Xuân chỉ thực sự trọn vẹn khi Tổ quốc được bình yên./.