Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Về nơi ra đường là gặp quả phụ...

Sáng nay (27/5), gia đình đã đưa thi thể thuyền trưởng Đặng Văn Dùm và các ngư dân bị thương về đến cảng Sa Kỳ (Bình Sơn, Quảng Ngãi). Ông là thuyền trưởng, ở xã An Vĩnh - Lý Sơn, tử nạn do bị tàu lạ (chắc chắn là tàu Trung Quốc) đâm chìm. Trong khi đó một thuyền viên khác còn bị mất tích.

Lý Sơn lại thêm những người đàn ông nữa ra đi, thêm những người phụ nữ bạc đầu vì khăn tang... 
Ghi chép "Ở Lý Sơn không có nàng Tô Thị" mình viết cách đây 1 năm rưỡi tại Lý Sơn, giờ vẫn còn nguyên cảm giác nghẹn nghèo, cồn cào... khi chứng kiến những góa phụ mỏi mắt chờ chồng mà không hóa đá...


 ***
***  ***
Đến đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, chúng ta không khó để bắt gặp những người phụ nữ với những gương mặt khó đoán tuổi. Họ có mặt ở mọi nơi, từ cảng cá buổi sáng đến những phiên chợ muộn trên đảo; họ cần mẫn trên những thửa hành, tỏi hay ở nhà chăm con… Rất nhiều người trong số những phụ nữ ấy là người đơn thân, khi nửa còn lại của các chị đã gửi mình nơi biển cả.
Thờ chồng, nuôi con và… trả nợ
Nhắc đến người chồng bị tử nạn trong trận siêu bão số 1 năm 2010, chị Dương Thị Thương ở thôn Tây, xã An Hải lại khóc. Anh Nguyễn Văn Thọ - chồng chị, ra đi để lại cho chị người mẹ chồng ngoài 80 và 3 đứa con thơ dại, cùng món nợ hơn 100 triệu đồng. Chị Thương kể, trên “chuyến tàu định mệnh” tháng 7/2010 có 11 người, đánh bắt tại ngư trường Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc đó biển động dữ dội, con thuyền bị bão quăng quật và gần như chìm nghỉm. Anh Thọ đã bị hất xuống biển và mất tích. 10 thành viên còn lại buộc tay vào nhau. Cứ thế, sau 3 ngày lênh đênh trên biển, các anh may mắn được một tàu buôn của Hồng Kông (Trung Quốc) đi qua cứu giúp.
Chị Thương và người mẹ chồng ngoài 80
Cùng thời điểm đó, cháu Nguyễn Thị Thảo, con gái lớn của anh Thọ, chị Thương được người cậu đưa đi thi Đại học Quy Nhơn. Khi hai cậu cháu nghe hung tin, cũng là lúc Thảo kết thúc môn thi cuối cùng. “Lúc con đi thi, anh Thọ còn nhắn tin chúc con thi đỗ đạt, ba về cả nhà sẽ liên hoan, thế mà khi con trở về, anh không sống để nhìn thấy mặt con…”, chị Thương sụt sùi. Rồi tin vui cháu Thảo đỗ vào khoa Hóa, Đại học Quy Nhơn khiến cả gia đình chị vỡ òa. Ước mơ con đậu đại học của anh chị đã thành hiện thực, nhưng chị Thương canh cánh nỗi lo, bởi lấy đâu ra tiền cho Thảo lên thành phố học, còn hai đứa em, món nợ chung chi với anh em nghiệp đoàn…
“Cháu Thảo nhất quyết đòi vô Sài Gòn làm mướn để đỡ đần mẹ. Nhưng tôi bảo, ba đã mất rồi, con phải học – bởi con là niềm tự hào của ba mẹ, mẹ sẽ hy sinh tất cả vì các con”, chị Thương kể. Tuy được Hội Phụ nữ xã, ngân hàng chính sách tạo điều kiện cho vay tiền, cùng với 2 sào tỏi cho thu nhập 3 – 4 triệu đồng/năm, song phía trước, cuộc sống của gia đình chị Thương vẫn còn gập ghềnh sóng gió.
Cách nhà chị Thương không xa là gia đình chị Dương Thị Hiệp ở thôn Tây, là hộ nghèo nhất của xã An Hải. Mới 36 tuổi, song chị Hiệp trông đã khắc khổ vì lam lũ với nắng gió. Chồng chị - anh Ngô Văn Thế, tử nạn trong một chuyến lặn biển tại khu vực quần đảo Trường Sa năm 2007, khi đó chị đang mang thai đứa con thứ 3. Trong căn nhà tường vôi trống trải, ngoài ban thờ chồng và những chiếc vỏ ốc biển – kỷ vật còn lại của anh trong những chuyến ra khơi, chị Hiệp chẳng còn vật dụng gì đáng giá. “Công cụ lao động” duy nhất để nuôi mấy miệng ăn là đôi quang gánh chị Hiệp dùng để đi mua “nhôm nhựa”.

Chị Hiệp (phải) trước ngôi nhà vắng bóng chồng
“Vợ chồng tôi dành dụm, vay mượn anh em để cây căn nhà này, vào thời điểm 5 năm trước khoảng hơn 300 triệu đồng. Anh ấy bảo đi biển khi nào trả xong nợ sẽ ở nhà làm ăn, nuôi vợ con. Ai ngờ, anh chưa ngày nào được ở trọn vẹn trong ngôi nhà mới thì bị chết ngạt dưới độ sâu 40 – 50m trong một chuyến lặn biển”, chị Hiệp ngậm ngùi. Đứa con gái nhỏ nay đã lên 5 không biết mặt cha, suốt ngày hỏi mẹ “bao giờ cha đi biển về” khiến nỗi đau càng đè nặng lên đôi vai gầy gò của chị Hiệp. Hiện chị còn nợ hơn 3 cây vàng từ ngày làm nhà, rồi tiền vay ngân hàng… Đứa con trai lớn năm nay 13 tuổi, học lớp 6, nhưng còi cọc như trẻ lên 8, đứa thứ 2 học lớp 5. Một học kỳ, ngoài khoản miễn giảm của Nhà nước, chị Hiệp phải đóng thêm cho các con khoảng 600.000 đồng, nhưng chẳng biết xoay sở đâu ra, khi mỗi ngày đi thu mua nhôm nhựa chỉ được khoảng 20.000 đồng và nguy cơ những đứa trẻ thất học đang hiện hữu trước mắt.
Từ khi chồng chết, chị Hiệp không biết đến hạt cơm nóng. Mỗi ngày chỉ nấu một nắm gạo để 3 đứa trẻ chia nhau cả ngày. Còn chị hầu như nhịn đói hoặc chỉ ăn ít cơm nguội hay vài hạt ngô cầm hơi. Thi thoảng gia đình chị cũng nhận được trợ cấp của địa phương, chòm xóm hoặc của các chiến sĩ biên phòng. Những ngày mưa to hay biển động, mấy mẹ con chỉ biết nhịn đói, ngồi ngóng ra phía biển…
Trao đổi với chúng tôi, bà Phạm Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn cho biết: Đối với huyện đảo Lý Sơn, nguồn lợi kinh tế chủ yếu từ biển. Người đàn ông đi biển là người lao động chính, nuôi vợ con; những người phụ nữ ngoài vài sào hành, tỏi thì công việc còn lại là nuôi con, lo toan việc nhà. Thế nên, khi rủi ro xảy ra với những người đàn ông đi biển, thì người phụ nữ ngoài nỗi đau mất chồng, “bài toán” kinh tế đương nhiên đặt lên vai họ.
Theo thống kê, toàn huyện hiện có khoảng trên 500 phụ nữ đơn thân, chủ yếu có chồng gặp nạn trên biển. Khi những người chồng còn khỏe mạnh bám biển, mỗi tháng cho thu nhập hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng, thế nhưng khi tai nạn xảy ra, những gia đình này “nghiễm nhiên” trở thành hộ nghèo với những món nợ “lãi mẹ đẻ lãi con” bất tận chẳng biết khi nào trả hết.
Theo chị Võ Thị Phi, Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện Lý Sơn, riêng tại xã An Hải, trong khoảng 4 – 5 năm gần đây đã có 64 chị có chồng chết khi đi biển, trong khi đó toàn xã hiện có 267 phụ nữ đơn thân trên tổng số 2.041 hộ gia đình. Hầu hết các chị, khi chồng tử nạn, đều không tái giá và ở vậy thờ chồng, nuôi con.
Với 2.421 hội viên trong toàn huyện, các chị đã có nhiều chương trình hỗ trợ nhau phát triển kinh tế, cùng sẻ chia lúc khó khăn, hoạn nạn. “Các tổ chức, đoàn thể có chương trình hỗ trợ cho các chị em vay vốn để sản xuất, giải quyết việc làm hay buôn bán nhỏ, tuy nhiên mức độ vẫn còn hạn chế. Ở đảo lại không có các cơ sở sản xuất, xí nghiệp… cho nên bài toán tạo công ăn việc làm ổn định cho phụ nữ gần như không có lời giải; đời sống của chị em vẫn gặp rất nhiều khó khăn, bởi một mình phải nuôi 2 – 3 con. Vì thế, tỷ lệ phụ nữ thoát nghèo ở Lý Sơn rất thấp” – chị Phi chia sẻ. 
Mỗi sáng, rất đông phụ nữ ra cảng cá mưu sinh và ngóng người thân
“Những cây tỏi trên cát trắng…”
Lật giở hồ sơ những em học sinh mồ côi cha, thầy giáo Trần Ngọc Bích, giáo viên Văn – Hiệu phó trường THCS Lý Sơn chia sẻ: Hầu hết các em có bố tử nạn trên biển rất cố gắng trong học tập, bởi các em nhận thức rằng, chỉ có học – học giỏi mới thoát khỏi cái nghèo và báo đáp những vất vả, hy sinh của cha mẹ.
Thầy Bích kể cho chúng tôi nghe trường hợp em Lê Thị Thanh Thanh, hiện đang học lớp 12B3. Cha Thanh bỏ mạng trên biển năm 2010, để lại 3 mẹ con em tự bươn chải nuôi nhau. Được sự động viên của các thầy cô, bạn bè, Thanh tâm niệm “càng khó khăn, càng phải cố gắng”, em đã vươn lên trở thành học sinh giỏi của trường. “Những em nhỏ như Thanh chắc chắn sẽ thành công, bởi các em như những cây tỏi được trồng trên cát – đó là thành quả trộn lẫn mồ hôi của mẹ và vị mặn mòi của biển – nơi cha các em vì mưu sinh mà nằm lại không về” – thầy Bích nói.
Đảo Lý Sơn. Một ngày như mọi ngày. Từng đoàn thuyền nhổ neo rời bến. Sáng sớm, hàng chục phụ nữ đứng, ngồi trên cầu cảng chờ những chuyến tàu đầy ắp cá của chồng con trở về. Có những chị ra cảng chỉ để được trò chuyện, rồi lại tất tả trở về với luống tỏi và cơm nước cho con.
Thầy Trần Ngọc Bích nói rằng, ở đất nước ta, từ Lạng Sơn tới Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định… ở đâu cũng có những hòn Vọng Phu, hình ảnh những người mẹ ôm con chờ chồng đến hóa đá. Song có lẽ ở Lý Sơn, nơi mà “ra đường là gặp quả phụ” thì ngược lại, khái niệm “nàng Tô Thị, hòn Vọng Phu” không tồn tại. Bởi các chị không cho phép mình gục ngã. Các chị phải sống, bươn chải và vươn lên để thay chồng bám biển, bám đảo và truyền tình yêu cho con cái./.

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

Trường Sa trong tôi!

Những hình ảnh không thể quên trong chuyến công tác Trường Sa 18 - 28/4/2014














Những bài thơ viết ở Trường Sa

GẠC MA THÂN YÊU

Gạc Ma ơi! đau đáu tên Người
Nơi đảo chìm tiền tiêu Tổ Quốc
Mãi không quên trong mỗi người dân Đất Việt
Nơi máu những người con đã thấm đẫm dải san hô.

Gạc Ma ơi! ta nhớ mãi tên Người
Nơi nằm xuống của những chàng trai Đất Việt
Nơi 64 người con Anh hùng Bất khuất
Dâng hiến trọn đời mình cho tấc đất quê hương.

Gạc Ma ơi! da diết khôn nguôi
Tấc đất non sông đang oằn mình dưới gót giầy xâm lược
Nỗi đau trong lòng mỗi người con Đất Việt
Chưa thể an lòng vì tấc đất ông cha.

Gạc Ma ơi! đau đáu trong tôi
Mơ một ngày được vẹn tròn Đất Việt
Mơ một ngày sạch bóng bầy xâm lược
Thắp một nén tâm hương trên chính Gạc Ma.

Gạc Ma ơi! Gạc Ma ơi! Da diết mãi khôn nguôi!

Hà Nội, tháng 3/2014
Quốc Nam

  


TỔ QUỐC CỦA TÔI
Đây Tổ quốc Việt Nam yêu dấu
Bốn nghìn năm máu lửa hào hùng
Từ Mục Nam Quan những đỉnh núi điệp trùng
Tới mũi Cà Mau cực Nam nắng gió
Từ Trường Sơn ngút ngàn hùng vĩ
Tới Biển Đông sóng vỗ dạt dào
Hoàng Sa kia da diết nhớ thương sao
Cùng Trường Sa đứng tiền tiêu biển cả
Mỗi tấc đất, biển trời là thịt da ta đó
Đã biết bao lần thắm máu cha ông
Từ thủa mang gươm đi mở cõi Lạc Hồng
Khi giữ nước trước bầy xâm lược
Hình đất Việt qua bao đời ta có được
Nhờ ơn bao thế hệ tiền nhân
Trước hiểm nguy đã chẳng ngại dấn thân
Da ngựa bọc thây sá chi đời trai trẻ
Trước cường bạo chẳng bao giờ yếu thế
Phi nghĩa bạo tàn đều bỏ xác vong thây
Vẫn còn nghe vang vọng đâu đây
Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa mồ chôn xâm lược
Để Điện Biên động trời tiếp bước
Ấp Bắc, Khe Sanh viết tiếp hào hùng
Mỗi tấc đất hay mỗi thước Biển Đông
Hải đảo xa là máu xương Việt Nam ta đó
Hỡi những kẻ âm mưu nhòm ngó
Học lại sử xưa để ghi nhớ trong lòng
Chẳng sức mạnh nào nhờ súng lớn, quân đông
Mà sức mạnh khởi nguồn từ trong lòng dân tộc
Người Việt Nam yêu hòa bình và chân thật
Nhưng hòa bình không đánh đổi đất quê hương
Có ngoại xâm ta lại sẽ lên đường
Giã biệt quê hương với niềm tin mãnh liệt
Đất mẹ đó vẹn toàn là lẽ sống
Giữ vững non sông há phải tiếc thân mình
Dù đời này ta có phải hy sinh
Cũng nguyện cho cháu con vẹn tròn Đất Việt
Để Tổ quốc Non Sông bất diệt
Nước Việt Nam Muôn thủa vững âu vàng.
                                                           
Quốc Nam
(Nhà thơ Nam Kao)


Những cánh thư về từ Trường Sa...

Viết thư ở Trường Sa: Thời cơ “cả đời có một”
“Hôm nay tại đảo Sinh Tồn, nơi anh đang công tác, khai trương điểm bưu điện văn hóa xã. Anh muốn gửi gắm tình cảm từ đảo xa trong bức thư tay đầu tiên này cho em và các con…”. Đây là những dòng mở đầu trong lá thư viết tay mà Thiếu tá Trịnh Công Lý, Đảo trưởng đảo Sinh Tồn (thuộc huyện đảo Trường Sa – Khánh Hòa) gửi cho vợ và con ở thành phố Cam Ranh, nhân dịp khai trương điểm bưu điện văn hóa tại đảo Sinh Tồn vào cuối tháng 4 vừa qua. Thiếu tá Trịnh Công Lý cũng là người đầu tiên trong số những cán bộ, chiến sỹ đang công tác ở đảo “mở hàng” cho thùng thư đặt tại điểm bưu điện đặc biệt này.
Đông đảo thành viên trong đoàn công tác tới đảo Sinh Tồn viết thư gửi về đất liền
Thiếu tá Trịnh Công Lý nói rằng, đã 20 năm rồi anh mới viết thư tay. Trước đây, anh chỉ quen liên lạc về với gia đình, người thân qua sóng điện thoại. Thế nên, hôm nay khi cầm bút viết thư về cho vợ con từ đảo xa, anh lại thấy bồi hồi, xao xuyến, tay run run vì xúc động.
Anh Lý cho biết: “Trước khi có điểm bưu điện văn hóa xã, cán bộ, chiến sỹ và người dân đảo Sinh Tồn thường gửi thư, bưu phẩm qua các đoàn công tác ra đảo, tuy nhiên không được nhiều. Thậm chí có những lá thư, món quà tới tay người nhận phải mất nhiều tháng. Nay có bưu điện thì thời gian gửi và nhận thư sẽ ngắn hơn, việc kết nối yêu thương sẽ sâu nặng, đậm đà hơn. Tôi vẫn thường nói với bộ đội trên đảo rằng, tình cảm qua điện thoại thì lời nói gió bay. Những tình cảm trong thư viết tay mới trường tồn mãi mãi và là kỷ niệm thiêng liêng ở đảo gửi về cho đất liền”.
Điều đặc biệt, trong đoàn công tác với gần 200 thành viên từ đất liền ra Trường Sa đợt này, ai cũng háo hức, mong muốn “chớp thời cơ” hiếm hoi này để viết thư về cho người thân. Anh Phan Văn Long, công tác tại Vụ giáo dục – đào tạo và dạy nghề, Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết, mặc dù anh đã đặt chân tới nhiều nơi trên thế giới, hàng ngày vẫn viết thư điện tử cho vợ con và bạn bè. Song khi được đặt chân tới Trường Sa, anh cảm thấy bồi hồi, xúc động với cảm xúc thiêng liêng trào dâng khi đứng bên bia chủ quyền, được hát Quốc ca dưới cờ Tổ quốc tung bay trong nắng vàng trên đảo.
Anh Long viết địa chỉ lên bì thư để gửi về cho con
Đêm trước tới Sinh Tồn, anh Long đã thao thức và viết lá thư dài gửi cho hai con của mình ở Hà Nội. Trong thư anh mô tả về biển đảo Trường Sa, về những đảo nổi, đảo chìm anh may mắn được đặt chân đến; về cuộc sống của những chiến sỹ, nhân dân trên đảo, tuy còn gian khó nhưng kiên gan và ấp áp nghĩa tình. “Có thể ai đó cho rằng đóng góp cho Tổ quốc là khá trừu tượng, nhưng khi ra đến Trường Sa, tôi thấy thực sự không có gì xa vời trong tư tưởng. Trong thư, tôi khuyên các con ngoài trách nhiệm phải học hành giỏi giang để khẳng định bản thân, các con phải sống cho xứng đáng với những gì mà nhiều chiến sỹ Trường Sa đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất nơi phên dậu Tổ quốc. Hy vọng một ngày nào đó, các con sẽ đóng góp được chút gì đó cho Trường Sa thân yêu, bảo vệ chủ quyền mà bao đời nay cha ông ta đã gìn giữ” – anh Long nói.
Anh Dương Văn Lễ, công tác tại Sở Thông tin – truyền thông Thái Bình cũng trong tâm trạng xúc động và tự hào của người con đất Việt lần đầu tiên được đặt chân lên Trường Sa. Anh Lễ cho biết, một điểm bưu điện văn hóa xã ở làng quê là rất bình thường, song ở xã đảo Sinh Tồn thì thực sự thiêng liêng và ý nghĩa. Trong cảm xúc trào dâng khi tới đảo, anh đã viết hai lá thư gửi về cho hai người bạn thân thiết của mình.
Một bạn trẻ viết thư từ thị trấn Trường Sa về cho mẹ
“Đã mấy chục năm rồi tôi mới viết thư tay. Từ trước tới nay, tôi chỉ biết Trường Sa qua sách vở, báo đài. Nay được đặt chân tới Trường Sa, tôi mới có cảm xúc thực sự và muốn viết ra bằng hết. Trong thư, tôi bày tỏ lòng tự hào của một người Việt Nam được tới thăm Trường Sa. Tôi không tô hồng, mà bày tỏ hết nỗi lòng mình từ Trường Sa gửi về cho bạn. Chắc chắn khi bạn tôi nhận được thư sẽ mong muốn có dịp ra Trường Sa, dù chỉ một lần”, anh Lễ kể.
Trường Sa – đất liền thêm gắn kết yêu thương
Nói về quá trình thành lập hai điểm bưu điện văn hóa xã ở Sinh Tồn và thị trấn Trường Sa, ông Nguyễn Quốc Vinh, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam cho biết: “Hai điểm bưu điện văn hóa này thực chất chỉ là mở rộng thêm chứ không phải xây dựng mới. Từ năm 1985, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam đã thành lập bưu cục cấp 3 Trường Sa, số hiệu 654800 đặt tại bán đảo Cam Ranh, Khánh Hòa. Sau nhận được chỉ thị từ Bộ Thông tin và Truyền thông, chúng tôi đã rốt ráo tiến hành ngay công tác chuẩn bị để khai trương hai điểm bưu điện văn hóa xã này. Chỉ trong vòng 2 tuần, chúng tôi đã chuẩn bị xong, kể cả trang phục cho nhân viên; đồng thời chuẩn hóa các công cụ, dụng cụ cho cung cấp dịch vụ như truy cập Internet, bưu chính chuyển phát, các quy trình và ứng dụng công nghệ thông tin”.
Lá thư của chị Diễm Thúy, Ban Tuyên giáo tỉnh Hậu Giang gửi về cho em gái của mình
Từ Trường Sa, anh Nguyễn Trọng Hoài Đức, công tác tại Thành đoàn Hà Nội, viết rất nhiều thư về cho người thân 

Ông Vinh khẳng định, nhân dân ở vùng biển đảo rất khó khăn trong việc đi lại, kết nối với đất liền. Cho nên khi được sử dụng dịch vụ này, khoảng cách giữa Trường Sa với đất liền sẽ thêm gần gũi. Những tâm tư, tình cảm, nhu cầu trao đổi thư từ, bưu phẩm, bưu kiện và kết nối Internet sẽ giúp cho đồng bào thấy đất liền đang ở bên, không có sự xa cách với bà con và bạn bè thân thiết.
Tới đây, cùng với sự phát triển và củng cố lại toàn bộ hệ thống cung cấp các dịch vụ theo chủ trương chung, hy vọng số lượng người dân cũng như nhu cầu gia tăng, chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng tới các đảo lân cận khác, để làm sao mọi người dân ở các đảo đều có cơ hội sử dụng dịch vụ công ích do Nhà nước cung cấp” – ông Vinh nói.
Anh Minh làm việc tại điểm bưu điện văn hóa thị trấn Trường Sa
Ngày đầu tiên được làm việc trên cương vị cán bộ bưu điện văn hóa xã tại thị trấn Trường Sa, anh Đỗ Huy Minh cho biết, chỉ trong khoảng một tiếng của buổi sáng đầu tiên, anh đã thực hiện giao dịch khoảng 300 – 400 lá thư từ thị trấn Trường Sa gửi về đất liền, tất cả các phong bì in bia chủ quyền Trường Sa đã hết veo.
Anh Minh chia sẻ: “Tôi cảm thấy rất vui, tự hào và vinh dự được là nhân viên đầu tiên tại điểm giao dịch, được đóng góp một phần công sức nhỏ bé để đưa những cánh thư từ đảo xa về với đất liền. Những tình cảm trong thư đã thể hiện sự gắn kết yêu thương của những người nơi đảo xa với người thân. Từ đó, mọi người sẽ không cảm thấy khoảng cách giữa Trường Sa xa xôi nữa”.
Việc mở rộng hai điểm bưu điện văn hóa xã tại đảo Sinh Tồn và thị trấn Trường Sa, dấu bưu cục đến và đi từ hai điểm bưu điện này được đóng dấu có tên của hai địa danh nói trên. Đây cũng là điều khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng quần đảo thân yêu của Tổ quốc và khẳng định cuộc sống tại các đảo những năm qua luôn được đầu tư, cải tạo, nâng cấp hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo đời sống quân dân trên đảo tương tự như trên đất liền./.